Vật nuôi khác

Sử dụng chế phẩm chùm ngây trong chăn nuôi

 SỬ DỤNG CHẾ PHẨM CHÙM NGÂY TRONG KHẨU PHẦN THỨC ĂN CHO HEO THỊT

Phan Văn Sỹ, Lâm Bích Thảo, Phan Thị Tường Vi, Lê Quang Trí, Phạm Ngọc Thảo và Đinh Thị Quỳnh Liên 

TÓM TẮT

Nghiên cứu nhằm xác định mức bổ sung thích hợp trong khẩu phần heo thịt và khả năng thay thế kháng sinh bằng cây Chùm Ngây dạng bột thô và chế phẩm. Tổng số 480 heo thịt lai Duroc x (Yorkshire x Landrace) được bố trí theo kiểu mẫu hoàn toàn ngẫu nhiên 1 yếu tố gồm 8 nghiệm thức (khẩu phần), 20 heo/nghiệm thức, 3 lần lặp lại (8 x 20 x 3 - theo sơ đồ bố trí thí nghiệm). Khối lượng trung bình heo vào thí nghiệm là 25-26 kg/heo, heo giữa các nghiệm thức bảo đảm tính đồng đều về giống, giới tính, điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng. Theo dõi các chỉ tiêu về lượng thức ăn thu nhận, tăng khối lượng, hệ số chuyễn hóa thức ăn, tỷ lệ chết và loại thải. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Bổ sung bột thô Chùm Ngây và chế phẩm Chùm Ngây không làm thay đổi lượng thức ăn ăn vào của heo lai nuôi thịt. Thế nhưng, Chùm Ngây đã có tác dụng cải thiện tăng khối lượng và hệ số chuyển hóa thức ăn ở heo lai nuôi thịt. Sử dụng 10% bột thô Chùm Ngây hoặc 1,5% chế phẩm Chùm Ngây trong khẩu phần heo thịt có tác dụng tương đương với việc sử dụng kháng sinh trong khẩu phần.

Từ khóa: Moringa oleifera, bột thô Chùm Ngây, chế phẩm Chùm Ngây, thay thế, heo thịt thương phẩm
 
 
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Các nghiên cứu khoa học về chăn nuôi cũng như các ngành khoa học khác đang phát triển lớn mạnh không ngừng. Sự phát triển lớn mạnh này đưa đến những lĩnh vực hầu như không có ranh giới rõ rệt, mà đan xen, tương trợ lẫn nhau cùng đi đến một mục đích chung. Đó là làm sao đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của con vật theo một cách tự nhiên nhất, mà vẫn đạt được năng suất và hiệu quả chăn nuôi cao nhất, đồng thời đưa đến các sản phẩm chăn nuôi an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng và thân thiện với môi trường. Trong xu hướng này, các chất bổ sung có nguồn gốc tự nhiên ngày càng được quan tâm ứng dụng. Dược thảo hay thảo dược ngày càng có nhiều tác giả quan tâm đến nó và sử dụng nó như một chất bổ sung vào thức ăn chăn nuôi giúp phòng ngừa bệnh tật và làm tăng tính ngon miệng, giảm tác hại của sự oxy hóa dưỡng chất trong thức ăn, hỗ trợ tăng cường tiêu hóa, trao đổi chất dinh dưỡng trong cơ thể vật nuôi
Chùm Ngây (Moringa oleifera) là một cây thảo dược được trồng ở 80 nước trên thế giới, tập trung nhiều ở châu Phi, Madagascar và một phần của châu Á bao gồm cả Ả Rập và Ấn Độ. Ở nước ta, trước đây cây mọc hoang nhưng sau này được trồng nhiều ở các tỉnh miền Trung (Đà Nẵng, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận); miền Đông Nam Bộ (Đồng Nai), đồng bằng sông Cửu Long (An Giang) và đảo biển (Phú Quốc) (Võ Văn Chi, 1999). Trong hoa, lá và rễ Chùm Ngây có các hoạt chất có khả năng kháng khuẩn và kháng nấm mạnh như pterygospermin; isothiocyanate; anthonine. Ngoài ra, trong lá Chùm Ngây chứa nhiều chất dinh dưỡng quan trọng như protein, khoáng vi lượng, vitamin C, nhóm B, ß-caroten, các acid amin thiết yếu (Võ Văn Chi, 1999; Phạm Hoàng Hộ, 2000) và nhiều hợp chất quý khó gặp ở những cây thực vật khác (zeatin, nhóm flavonoid bao gồm quercetin; rutin; ß-sitosterol; acid caffeoylquinic và kaempferol) (Tarafder,. 1983; Nath và ctv, 1997; 1992). Bên cạnh đó, hàm lượng các chất kháng dinh dưỡng trong Chùm Ngây thấp hứa hẹn là nguồn thức ăn tốt cho người và gia súc (Afuang và ctv, 2003; Anwar và ctv, 2007; Yameogo và ctv, 2011).
Trong y học, hoạt chất chiết xuất từ cây Chùm Ngây được ứng dụng trong bào chế thuốc kháng khuẩn, kháng nấm; hạ cholesterol, phospholipid, triglycerid sản sinh trong máu; sản xuất thực phẩm chức năng chống suy dinh dưỡng và rất nhiều ứng dụng khác.

Trong chăn nuôi, cây Chùm Ngây đã được sử dụng làm thức ăn cho một số gia súc, gia cầm nhưng thường ở dạng thô. Hơn nữa, việc sử dụng cây Chùm Ngây cũng chưa thử nghiệm ở các mức nhằm tìm ra bổ sung thay thế bao nhiêu là hợp lý. Thực tế, những nghiên cứu sử dụng chế phẩm chiết xuất từ cây Chùm Ngây cho heo hầu như chưa có. Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành thí nghiệm này nhằm mục tiêu nghiên cứu xác định mức bổ sung thích hợp trong khẩu phần heo thịt và khả năng thay thế kháng sinh của chế phẩm Chùm Ngây dạng bột thô và chế phẩm Chùm ngây (dạng cao chiết xuất).

2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
 
2.1. Vật liệu
-       Sử dụng heo thịt thương phẩm lai ba máu Duroc x (Yorkshire x Landrace)
-       Thức ăn sử dụng cho thí nghiệm được tổ hợp từ: bắp, cám gạo, khô đậu nành, dầu đậu nành ,bột đá và một số loại a xít amin đảm bảo cân bằng về mức năng lượng trao đổi, protein và lysine tiêu hóa ở khẩu phần là như nhau và thỏa mãn nhu cầu dinh dưỡng ở các giai đọan sinh trưởng theo khuyến cáo của NRC (2012).
-       Chế phẩm dạng bột thô: lá Chùm Ngây khô xay thành bột mịn với độ ẩm 8,85%, hàm lượng protein thô 21, và hàm lượng Flavonoid toàn phần trong dung môi ethanol 96% là 8,85%
-       Chế phẩm Chùm Ngây là cao bán thành phẩm Chùm Ngây được trộn với chất mang là tinh bột và hàm lượng Flavonoid toàn phần trong trong môi ethanol 96% là 12,81% .
 
2.2. Thiết kế thí nghiệm
Tổng số 480 heo thịt thương phẩm Duroc x (Yorkshire x Landrace) được bố trí theo kiểu mẫu hoàn toàn ngẫu nhiên 1 yếu tố: 8 nghiệm thức, 20 heo/nghiệm thức, 3 lần lặp lại (8 x 20 x 3 - theo sơ đồ bố trí thí nghiệm).
Sơ đồ bố trí thí nghiệm:
Nghiệm thức (NT)1: Đối chứng (ĐC): Không bổ sung chế phẩm, kháng sinh
NT2: Bổ sung chế phẩm dạng thô 5%
NT3: Bổ sung chế phẩm dạng thô 10%
NT4: Bổ sung chế phẩm dạng thô 15%
NT5: Bổ sung chế phẩm dạng cao chiết xuất  0,5%
NT6: Bổ sung chế phẩm dạng cao chiết xuất  1%
NT7: Bổ sung chế phẩm dạng cao chiết xuất  1,5%
NT8: Bổ sung chlotetracycline với liều 100 ppm.
Khối lượng heo lúc bắt đầu thí nghiệm trung bình 25-26 kg/heo.
Heo giữa các nghiệm thức bảo đảm tính đồng đều về giống, giới tính, khối lượng. Điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng như nhau.
 
2.3. Chỉ tiêu theo dõi:
-                Thức ăn tiêu thụ hàng ngày.
-                Tăng khối lượng bình quân giai đọan sinh trưởng và vỗ béo.
-                Hệ số tiêu tốn thức ăn.
-                Tỷ lệ chết và lọai thải.
 
2.4. Thời gian thí nghiệm
Thí nghiệm được thực hiện từ tháng 1 đến tháng 7 năm 2016.
 
2.5. Phân tích số liệu
Số liệu được thu thập hàng ngày từ thí nghiệm và xử lý thông kê bằng phần mềm Minitab 16, so sánh có ý nghĩa thống kê ở mức sai khác (P< 0,05)
 
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
 
3.1. Lượng thức ăn thu nhận và hệ số chuyển hóa thức ăn
 
3.1.1. Lượng thức ăn thu nhận
Lượng thức ăn thu nhận hàng ngày của lợn thí nghiệm thể hiện tại bảng 1. Lượng thức ăn thu nhận giai đoạn 1 (0-60 ngày) thí nghiệm dao động trong phạm vi 1664-1678 g/con/ngày và giai đoạn sau từ 60 ngày đến xuất bán là 2529-2615 g/con/ngày. Tính chung cho cả giai đoạn thí nghiệm từ sơ sinh đến xuất chuồng, giá trị trung bình về lượng thức ăn thu nhận giữa các khẩu phần không có ý nghĩa thống kê.
 
3.1.2. Hệ số chuyển hóa thức ăn
Hệ số chuyển hóa thức ăn giai đoạn 1 (0-60 ngày) thấp nhất ở khẩu phần sử dụng kháng sinh là 2,46 kgTA/kg TKL và sai khác có ý nghĩa thông kê so với  các khầu phần còn lại trừ khẩu phần sử dụng 10% bột thô Chùm Ngây và khẩu phần sử dụng 1,5% chế phẩm Chùm Ngây. Hệ số chuyển hóa thức ăn cao nhất ở lô đối chứng (2,81 kgTA/kg TKL).
Trong giai đoạn 2, hệ số chuyển hóa thức ăn tốt nhất ở khẩu phần sử dụng 10% bột Chùm Ngây thô (3,03 kgTA/kg TKL), tiếp đến là ở khẩu phần sử dụng kháng sinh (3,08 kgTA/kg TKL) và cao nhất ở khẩu phần không sử dụng kháng sinh và chế phẩm là 3,37 kgTA/kg TKL. Tuy nhiên, giá trị trung bình của hệ số chuyển hóa thức ăn trong giai đoạn này, không có sự sai khác có ý nghĩa thống kê giữa các khẩu phần.
Tính chung cho cả giai đoạn thí nghiệm, hệ số chuyển hóa thức ăn cao nhất ở lô đối chứng 3,08 kgTA/kg TKL và sai khác có ý nghĩa thống kê so với lô sử dụng 1,5% chế phẩm, 10% bột thô và lô sử dụng kháng sinh (P<0,05). Giữa các lô sử dụng bột thô và chế phẩm Chùm Ngây không có sự sai khác có ý nghĩa thống kê. Như vậy, sử dụng bột thô Chùm Ngây đã cải thiện hệ số chuyển hóa thức ăn từ 3,9-9,42% và chế phẩm Chùm Ngây 1,62-8,44% so với lô đối chứng. Với mức sử dụng 10% bột thô và 1,5% chế phẩm Chùm Ngây cho kết quả về hệ số chuyển hóa thức ăn gần bằng với lô sử dụng kháng sinh. Kết quả nghiên cứu này của chúng tôi cũng tương tự kết quả công bố bởi Sonia và ctv (2010) khi sử dụng bột lá Chùm Ngây với tỷ lệ khác nhau trong khẩu phần ăn cho lợn không làm ảnh hưởng đến lượng thức ăn ăn vào và hệ số chuyển hóa thức ăn, Tuy nhiên, nghiên cứu gần đây bởi Mukumbo và ctv (2014), cho rằng sử dụng 2,5 và 5% trong khẩu phần thức ăn cho heo thịt không ảnh hưởng đến lượng thức ăn ăn vào và hệ số chuyển hóa thức ăn, nhưng với việc bổ sung 7,5% bột lá Chùm Ngây ăn vào đã làm tăng lượng thức ăn thu nhận và làm tăng hệ số chuyển hóa thức ăn so với lô bổ sung 2,5 và 5% trong khẩu phần. Tỷ lệ chết và loại thải giữa các lô thí nghiệm là như nhau.
 

3.2. Khối lượng và tăng khối lượng
 Khối lượng và tăng khối lượng của heo thí nghiệm thể hiện tại bảng 2.
 
3.2.1. Khối lượng
Khối lượng heo lúc bắt đầu thí nghiệm là tương đương nhau giữa các lô thí nghiệm từ 25,46-26,68 kg/con. Khi kết thúc thí nghiệm, khối lượng cao nhất ở lô sử dụng kháng sinh và lô sử dụng 10% bột Chùm Ngây thô. Sự sai khác giữa các giá trị trung bình có ý nghĩa thống kê khi so sánh với lô đối chứng, lô sử dụng 0,5 và 1% chế phẩm Chùm Ngây (P<0,05).
 
3.2.2. Tăng khối lượng
Tăng khối lượng trung bình giai đoạn 1 là 625 g/con/ngày và cao nhất ở lô sử dung kháng sinh 676 g/con/ngày, tiếp đến là lô sử dụng 10% bột thô Chùm Ngây đạt 653 g/con/ngày, kế tiếp là lô sử dụng 1,5% chế phẩm Chùm Ngây đạt 648 g/con/ngày. Sự sai khác có ý nghĩa thống kê với lô không sử dụng kháng sinh và chế phẩm (lô đối chứng) (p< 0,05).
Ở giai đoạn sau, mặc dù có sự chênh lệch về tăng khối lượng giữa các lô thí nghiệm, nhưng sự sai khác giữa các giá trị trung bình không có ý nghĩa thống kê.
Tính chung cho cả giai đoạn thí nghiệm, tăng khối lượng thấp nhất ở lô đối chứng là 667 g/con/ngày và có sự sai khác có ý nghĩa thống kê khi so sánh với lô sử dụng kháng sinh, lô sử dụng 10% bột thô và 1,5% chế phẩm Chùm Ngây. Các lô sử dụng bột thô Chùm Ngây cho kết quả tăng khối lượng là tương đương nhau 702 -732 g/con/ngày và cao hơn một chút so với các lô sử dụng chế phẩm Chùm Ngây (674-728 g/con/ngày). Nếu so sánh về khối lượng heo khi kết thúc thí nghiệm từ các lô sử dụng sản phẩm từ cây Chùm Ngây với lô đối chứng cho thấy: Sử dụng bột Chùm Ngây thô bổ sung vào khẩu phần thức ăn cho heo đã làm cải thiện khối lượng heo 3,47-6,58% và sử dụng 10% bột thô trong khẩu phần là tốt nhất. Sử dụng chế phẩm Chùm Ngây bổ sung vào thức ăn chăn nuôi đã làm cải thiện về khối lượng heo thí nghiệm 0,35-5,54% và sử dụng 1,5% chế phầm mang lại hiệu quả cao nhất. Tuy nhiên, sử dụng bột thô và chế phẩm Chùm Ngây cho kết qua tương đương và thấp hơn vệc sử dụng kháng sinh trong khẩu phần thức ăn cho heo thịt.
 

 
4. KẾT LUẬN
Bổ sung bột thô Chùm Ngây và chế phẩm Chùm Ngây không làm thay đổi lượng thức ăn ăn vào, nhưng có tác dụng cải thiện tăng khối lượng và hệ số chuyển hóa thức ăn ở heo thịt.
Sử dụng 10% bột thô Chùm Ngây hoặc 1,5% chế phẩm Chùm Ngây trong khẩu phần heo thịt có tác dụng tương đương với việc sử dụng kháng sinh trong khẩu phần.
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.    Afuang W., Siddhuraju P. and Becker K. (2003)’ Comparative nutritional evaluation of raw, methanol extracted residues and methanol extracts of moringa (Moringa oleifera Lam.) leaves on growth performance and feed utilization in Nile tilapia (Oreochromis niloticus L.). Aquaculture Research, 34(13): 1147-59.
2.    Anwar F., Latif S., Ashraf M. and Gilani A.H. (2007), Moringa oleifera: a food plant with multiple medicinal uses. Phytother Res., 21(1): 17-25.
3.    Võ Văn Chi (1999), Tự điển cây thuốc Việt Nam. Nhà xuất bản Y học, Trang: 1354-55.
4.    Phạm Hoàng Hộ (2000), Cây cỏ Việt Nam, NXB Trẻ, Quyển III, 2000, 60.
5.    Mukumbo E.F., V. Maphosa, A. Hugo, T.T. Nkukwana, T.P. Mabusela and V. Muchenje (2014), Effect of Moringa oleifera leaf meal on finisher pig growth performance, meat quality, shelf life and fatty acid composition of pork, South African Journal of Animal Science, 44(4): 388-400
6.    Nath D., Sethi N., Srivastav S., Jain A.K. and Srivastava R. (1997), Survey on indigenous medicinal plants used for abortion in some districts of Uttar Pradesh,  Fitoterapia, 68(3): 223-225.
7.    Nath D., Sethi N., Singh R.K. and Jain A.K. (1992), Commonly used Indian abortifacient plants with special reference to their teratogenic effects in rats.  J Ethnopharmacol., 36(2): 147-154.
8.    Sonia P. Acda, Hazel Grace D. Masilungan and Babylyn A. Moog (2010), Partial substitution of commercial swine feeds with malungay (Moringa oleifera) leaf meal under backyard conditions, Philippine Journal of Veterinary and Animal Science,  36(2): 137-146.
9.    Tarafder C.R. (1983), Ethno-gynecology in relation to plants, Plants used for abortion. Journal Econ. Taxon. Bot., 4(2): 507-516.
10. Yaméogo Charles Windépagnagdé, Marcel Daba Bengaly and AIy Nikiema (2011), Determination of Chemical Composition and Nutritional. Values of Moringa oleifera Leaves, Pakistan Journal on Nutrition, 10(93): 264-268.


Bài viết liên quan

Hỗ trợ trực tuyến

  • Liên hệ sản phầm

    Mr.Tuấn: 0918 300 114

  • Liên hệ kỹ thuật

    Ms. Tiên: 0974 516 457

Thư viện ảnh

  •  

Thống kê

  • Đang online:33
  • Hôm qua:61
  • Tổng lượt truy cập:40172