Bò sữa, bò thịt

Stress nhiệt trong chăn nuôi gà

 STRESS NHIỆT TRONG CHĂN NUÔI GÀ  

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

 

Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết thay đổi theo mùa, theo vùng miền và trong ngày cũng có sự biến động không nhỏ gây ra hiện tượng tress nhiệt ở vật nuôi và biểu hiện rõ nhất là ở vùng Đông Nam Bộ với mùa khô nắng nóng, nhiệt độ cao nhất trong mùa có lúc nên đến 40oC . Stress nhiệt là trạng thái nhiệt độ môi trường chênh lệch lớn với vùng nhiệt độ trung hòa của cơ thể gia súc, gây xáo trộn các hằng số sinh lý trong cơ thể. Vùng nhiệt độ trung hòa là vùng nhiệt độ môi trường tốt nhất giúp cơ thể gia súc có thể đạt năng suất tối đa và chịu tác động của stress ở mức tối thiểu. Vùng nhiêt độ trung hòa phụ thuộc vào tuổi, giống, lượng thức ăn tiêu thụ, thành phần thức ăn, tình trạng sản xuất, điều kiện chuồng nuôi. Ở vùng nhiệt độ này thú duy trì thân nhiệt bằng cách co hoặc giãn mạch, thay đổi tư thế, hành vi, bộ lông, đổ mồ hôi hoặc thở dốc. Về môi trường ngoại cảnh, stress nhiệt còn là sự kết hợp giữa nhiệt độ, độ ẩm tương đối và tốc độ gió. Tuy nhiên, những nhân tố về động vật (tuổi tác, độ dài và màu lông, trạng thái dinh dưỡng) tương tác với những nhân tố ngoại cảnh đã tạo nên tính chất nghiêm trọng của stress nhiệt. Do đó vấn đề chống stress nhiệt cho vật nuôi là một khâu hết sức quan trọng. Stress nhiệt của gà bắt đầu xảy ra khi nhiệt độ trong chuồng lớn hơn 27℃, nếu tăng đến 40℃ gà trống sẽ chết. Trong thực tế, tốc độ gió, độ ẩm… cũng có thể là các yếu tố gây Stress cho gà, nhưng nhiệt độ là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến năng suất của gà, nhất là gà đẻ.

 

 

II. CƠ CHẾ TỰ ĐIỀU TIẾT NHIỆT ĐỘ CƠ THỂ CỦA GÀ

Không giống như các loài động vật máu nóng khác, gà không có tuyến mồ hôi để giải phóng nhiệt độ cơ thể, mà gà thường tỏa nhiệt dư thừa theo bốn cách sau:

1. Bức xạ nhiệt: Truyền sức nóng của mình cho các đối tượng khác xung quanh qua không khí từ bề mặt da bằng các tia bức xạ nhiệt.

2. Truyền dẫn nhiệt: Gà sẽ tìm kiếm, chui rúc để tiếp xúc trực tiếp với các vật có nhiệt độ mát lồng, đệm sàn, nền tường ẩm,… và truyền dẫn nhiệt trực tiếp từ cơ thể gà cho các vật lạnh đó.

3. Đối lưu nhiệt: Thoát nhiệt lên trên theo hình thức đối lưu. Để tăng thoát nhiệt cơ thể băng đối lưu, gà sẽ: tìm một nơi mát mẻ trong chuồng, giang rộng đôi cánh và mở rộng các mạch máu trong các vách và da.

4. Bốc hơi nước: Gà không có tuyến mồ hôi nên sự bốc hơi nước không xuất hiện trên bề mặt da mà chủ yếu bốc hơi nước qua đường hô hấp để giảm nhiệt độ cơ thể (gà thở hổn hển). Để bốc hơi 1gram nước phải tiêu tốn 540 calo năng lượng. Nếu bạn để độ ẩm chuồng nuôi cao ngoài việc tạo điều kiện cho mầm bệnh phát triển, tăng sinh khí độc Amoniac mà đặc biệt ảnh hưởng làm giảm khả năng trao đổi nhiệt của cơ thể và môi trường.

III. CÁC YẾU TỐ DẪN ĐẾN STRESS NHIỆT CỦA GÀ

3.1 Nhiệt độ

Nhiệt độ từ 3 – 18ºC: gà bị lạnh và ít vận động. Một phần năng lượng dành cho sản xuất trứng phải dành cho sưởi ấm. Vì thế, sản lượng trứng bị giảm.18 – 24ºC: đây chính là nhiệt độ lý tưởng cho gà đẻ sản xuất tốt.

Nhiệt độ từ 24 – 30ºC: gà có hiện tượng giảm ăn và giảm tỷ lệ đẻ. Nếu gà được ăn thức ăn chất lượng tốt thì ít bị ảnh hưởng đến tỷ lệ đẻ.

Trên 30ºC: tỷ lệ vỏ trứng xấu tăng 30 – 32ºC: gà ăn giảm. Vì giảm ăn nên tăng trọng giảm, sản lượng trứng và trọng lượng trứng cũng giảm. Ở hệ thống chuồng lạnh, nhiệt độ trong chuồng nuôi ổn định trong khoảng 24 – 28ºC. Các triệu chứng bị stress nhiệt hầu hết đều bị tác động rất ít như: giảm ăn, giảm trọng lượng cơ thể và trọng lượng trứng, tăng tỷ lệ chất. Thức tế thì tỷ lệ chết ở chuồng lạnh đều bằng với tiêu chuẩn thực tế và thấp hơn so với chuồng hở trong khoảng 5% – 7%.

Nhiệt độ trung bình các tháng của vùng Đông Nam bộ khoảng 28,71oC cao nhất là 36oC và thấp nhất là 22oC (Bảng 1). Với nhiệt độ thực tế này thì đàn gà nuôi tại Đông Nam bộ luôn luôn bị ảnh hưởng tress nhiệt, nếu chúng ta không có các biện pháp giảm nhiệt độ của chuồng nuôi.

Bảng 1: Nhiệt độ của vùng Đông Nam bộ

3.2 Ẩm độ

Thông thường, nhiệt độ môi trường và ẩm độ luôn đi đôi với nhau. Trong chăn nuôi gà đẻ, việc tạo điều kiện và môi tối ưu nhất cho gà là góp phần làm tăng năng suất và lợi nhuận.

Nếu %RH nhỏ hơn 50% thì gà phát triển bình thường.

Nếu %RH lớn hơn 70% thì gà bắt đầu yếu dần.

IV. ẢNH HƯỞNG CỦA STRESS NHIỆT VỚI GÀ

4.1 Lượng thức ăn thu nhận

Một trong những tác động chính của Stress nhiệt với gà là giảm ăn. Sự suy giảm cảm giác ngon miệng, gà sẽ dẫn đến không đảm bảo đủ năng lượng cần thiết cho các hoạt động chuyển hóa trong cơ thể như chuyển hóa protein và carbohydrate. Giảm lượng thức ăn cũng dẫn đến thiếu các chất dinh dưỡng cần thiết, nó ảnh hưởng đến sức đề kháng và tăng trưởng của gà thịt, ảnh hưởng đến sức đề kháng, năng xuất, kích thước và chất lượng trứng và tỷ lệ nở của gà đẻ.

4.2 Ảnh hưởng bất lợi thứ cấp

Khoang mũi, có khả năng lọc vi khuẩn và bụi bẩn từ không khí vào hệ thống hô hấp, nhưng khi gà mà hít thở bằng cách mở miệng do nóng, điều này có nghĩa là gà đã bỏ qua hệ thống lọc vi khuẩn này và có thể dễ dẫn đến tăng nguy cơ nhiễm trùng thứ cấp.

4.3 Ảnh hưởng của stress nhiệt trên vỏ trứng

Khi nhiệt độ cơ thể của gà tăng cao, phổi sẽ tăng cường hô hấp, biểu hiện gà ngẩng đầu thở hổn hển để giảm nhiệt cơ thể. Tuy nhiên, quá trình tăng hô hấp này, sẽ làm giải phóng carbon dioxide a trong máu qua phổi, đẫn đến bị mắt cân bằng lượng axit trong máu, máu nghiêng kiềm. Nó được cho là Arukarojisu của đường hô hấp, điều này sẽ gây ra hiện tượng thay đổi nồng độ bicarbonate và canxi trong máu. Kết quả là, làm giảm canxi cacbonat dưới mức cần thiết cho việc hình thành vỏ trứng.

4.4 Một số nghiên cứu về ảnh hưởng của stress nhiệt đến chăn nuôi gà

4.4.1 Trên gà thịt

Ở giai đoạn dưới 3 tuần tuổi, nếu gà không đủ ấm gà sẽ túm lại không ăn hoặc ăn rất ít dẫn đến gà chậm lớn và chết nhiều. Gà trống broiler khối lượng cao có thể bị chết vì stress nhiệt ở mức 35oC. Nếu nhiệt độ tăng cao lên đến trên 40oc, gà sẽ bị chết hàng loạt (Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận, 1992).

Nhiều nghiên cứu đã được công bố về tác động của stress nhiệt đối với hiệu quả sản xuất gà thịt. Như đã thấy trước đây, việc tiếp xúc của gà với nhiệt độ môi trường cao tạo ra phản ứng về hành vi, sinh lý và miễn dịch, gây ra những hậu quả bất lợi cho năng suất của chúng. Trời nóng gây ra thiệt hại kinh tế ước tính hàng năm cho ngành sản xuất chăn nuôi của Mỹ từ 1,69 tỷ đô la đến 2,36 tỷ đô la (Pierre et al., 2003). Trong một số nghiên cứu trên gà broiler ảnh hưởng bởi  stress nhiệt đã làm giảm đáng kể lượng thức ăn ăn vào (-16,4%), giảm trọng lượng cơ thể (-32,6%) và tỷ lệ chuyển đổi thức ăn cao hơn (+ 25,6%) ở tuổi 42 ngày. Nhiều nghiên cứu bổ sung đã cho thấy sự tăng trưởng kém ở gà broiler bị stress nhiệt (Deeb et al., 2002; Ghazi et al., 2012; Attia et al., 2011 và Imik et al., 2012).

Theo nghiên cứu bởi Lu et al., 2007 cho thấy stress nhiệt mãn tính ảnh hưởng xấu đến sự hình thành chất béo và chất lượng thịt ở gà thịt. Trên thực tế, các nghiên cứu gần đây cho thấy stress nhiệt có liên quan đến sự hình thành và chất lượng thịt ở gà thịt [Dai et al., 2012 và Imik et al., 2012. Một nghiên cứu khác cho thấy stress nhiệt mãn tính làm giảm tỷ lệ bắp thịt, đồng thời tăng tỷ lệ cơ đùi ở gà thịt. Hơn nữa, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng hàm lượng protein thấp hơn và tích lũy mỡ cao hơn ở những con bị stress nhiệt (Zhang et al., 2012).

Rất nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, gà thịt rất mẫn cảm và bị ảnh hưởng stress nhiệt trong qua trình vận chuyển, do mật độ quá dày trong quá trình vận chuyển có thể gây chết hàng loạt (Mitchell et al., 1998 và Warris et al., 2005)

4.2.2 Trên gà đẻ

Trong một nghiên cứu bởi Deng et al., 2012 trên gà đẻ bị stress nhiệt liên tục trong 12 ngày đã làm giảm lượng thức ăn ăn được hàng ngày là 28,58 g/con, làm giảm 28,8% lượng trứng. Star et al., 2009 báo cáo rằng gà đẻ bị stress nhiệt đã giảm 31,6% về hiệu qua sử dụng thức ăn, 36,4% sản lượng trứng, và 3,41% trọng lượng trứng. Trong một nghiên cứu khác bởi Lin et al., 2004 cho thấy, stress nhiệt làm giảm hiệu suất sản xuất, cũng như độ dày lớp vỏ trứng giảm, và sự gia tăng sự vỡ trứng. Ngoài ra, stress nhiệt đã cho thấy làm giảm đáng kể trọng lượng trứng (-3,24%), độ dày lớp vỏ trứng (-1,2%), trọng lượng vỏ trứng (-9,93%), và tỷ lệ vỏ trứng (-0,66%) (Ebeid et al., 2012). Mack et al., 2013 cũng quan sát thấy sản lượng trứng giảm, trọng lượng trứng và độ dày vỏ trứng giảm ở gà đẻ gây stress nhiệt. Một loạt các thí nghiệm nghiên cứu bởi Farnel et al., 2001 đã chứng minh tác động bất lợi ngày càng gia tăng khi mà áp khi gà đẻ bị stress nhiệt thường xuyên. Trong các thí nghiệm này, sự giảm 13,2%, 26,4% và 57% xảy ra khi sản lượng trứng gà đẻ gây ra stress nhiệt trong 8-14 ngày, 30-42 ngày và 43-56 ngày. Trong một nghiên cứu khác bởi Mashaly et al., 2004 cho thấy sự giảm sản lượng trứng (28,8%), thức ăn ăn được (34,7%) và trọng lượng cơ thể (19,3%) ở gà đẻ bị stress nhiệt mãn tính, trong thời gian 5 tuần.

V. NHỮNG GIẢI PHÁP GIẢM STRESS NHIỆT

5.1 Thiết kế chuồng nuôi để giảm stress nhiệt là rất quan trọng !

Ngoài các nguyên nhân như nhiệt độ không khi bên ngoài cao, độ thông thoáng của chuồng, mật độ nuôi, nhiệt tỏa ra từ cơ thể vật nuôi và các thiết bị sinh nhiệt trong chuồng, một nguyên nhân chính làm cho nhiệt độ trong chuồng nuôi luôn tăng cao là bởi hấp thụ nhiệt được tạo ra từ nhie ánh nắng mặt trời đập vào tường và máiKhi các tia bức xạ năng lượng mặt trời đó đập vào tường mái, chúng sẽ chuyển hóa thành nhiệt năng làm tăng nhiệt độ trong chuồng và gây ra stress nhiệt. Vì vậy chuồng nuôi phải được:

  • Chuồng thiết kế cao ráo, thông thoáng, mát mẻ vào mùa hè, tránh được mưa tạt, gió lùa.
  • Hướng chuồng tốt nhất là hướng đông nam hoặc đông tây - tránh bức xạ mặt trời.
  • Xung quanh chuồng trồng cây xanh tạo bóng mát.
  • Nền chuồng sạch sẽ, chất độn chuồng trải mỏng, định kỳ thay chất độn chuồng sao cho luôn khô ráo, sạch mầm bệnh.
  • Mái nhà thiết kế đạt tiêu chuẩn chuồng trại: sử dụng tấm Tarpfoil có thể phản xạ 98% nhiệt bức xạ, khi lắp tấm tarpfoil chống nóng dưới mái sẽ tạo thành hàng rào cản nhiệt giúp cải thiện môi trường trong chuồng nuôi gà.

5.2 Các biện pháp chăm sóc, trống nóng hằng ngày trong chăn nuôi gà

Cung cấp thoải mái nước mát và sạch. Tăng lượng nước cũng như máng uống. Đường ống dẫn nước và bể nước có thể xây ngầm hoặc có mái cách nhiệt để giữ cho nước càng mát càng tốt vì nước mát sẽ giúp cho gà hạ thấp được nhiệt độ trong cơ thể.

Sử dụng dinh dưỡng hợp lý: Ví dụ: để hấp thu tốt hơn trong mùa nóng, một trang trại cho gà ăn vào 6h sáng, 6h chiều và 21h tối.Cho ăn riêng canxi: Điều này giúp tăng đáng kể lượng thức ăn vào cũng như mức canxi tiêu thụ, đồng thời giúp cải thiện đáng kể sản lượng trứng và chất lượng vỏ trứng trong chăn nuôi gà đẻ.

Thay thế năng lượng trong thức ăn bằng năng lượng của chất béo là một cách để hạn chế sản sinh nhiệt vì sự giải phóng nhiệt từ tiêu hóa và trao đổi chất của tinh bột cao hơn, xấp xỉ 30% so với chất béo.

- Tăng số máng ăn (đặc biệt đối với gà thả vườn) sao cho gà không phải mất quá nhiều công sức hay chen chúc để ăn.

- Bổ sung vitamin C, điện giải, đường vào trong nước uống để giúp gà giải nhiệt và tăng sức đề kháng.

 - Bổ sung thêm D,L- methionine làm tăng khả năng tiêu hóa thức ăn trong điều kiện nóng.

Mật độ vừa phải, đối với gà thịt 9-10con/m2 và gà giống là 4-5con/m2. nếu quá nóng có thể thả gà ra vườn, gốc cây quanh chuồng.

Với các hộ chăn nuôi gà bằng chuồng kín: nhiệt độ chuồng nuôi luôn đảm bảo từ 22-250C; ẩm độ 75%. Hạn chế tối thiểu sự dao động nhiệt độ trong chuồng nuôi - dùng nhiệt kế và ẩm kế để trong chuồng để theo dõi.Nếu nhiệt độ tăng cao hơn 250C thì có thể phun nước lên mái, phun ở dàn mát… Với chuồng hở: tốt nhất nên có khu vực “sân chơi” mát mẻ hoặc vườn nhiều cây để gà “tránh nóng” trong những ngày nhiệt độ lên quá cao. 

Tránh vận chuyển gia cầm trong thời điểm nắng nhất trong ngày từ 10h-15h.

5.3 Phòng chống nóng chủ động bằng vaccine, thuốc, vitamin…trong chăn nuôi gà mùa nóng

Tiêm phòng đầy đủ các bệnh nguy hiểm: Cúm gia cầm, Newcastle, Gumboro, Marek, IB…

 Phun sát trùng định kỳ: 2-3 lần/tuần. 

Tẩy giun sán, diệt chuột bọ xung quanh trang trại.

Theo dõi hằng ngày để phát hiện sớm gia cầm ốm, tiến hành cách ly điều trị xử lý kịp thời tránh lây lan ra toàn đàn → đây là một việc làm vô cùng quan trọng cần lưu ý trong chăn nuôi gà không chỉ trong mùa nóng.

Sau đợt nắng nóng: bổ sung vitamin và chất dinh dưỡng → tránh để gà thiếu chất, giảm cân, mệt mỏi. 

Bổ sung muối ăn, điện giải, B-complex giàu vitamin C vào trong thức ăn, nước uống để giải nhiệt. 

6. KẾT LUẬN

Phòng chống stress nhiệt trong chăn nuôi gia cầm nói chung và chăn nuôi gà nói riêng muốn hiệu quả thì cần tiến hành đồng bộ, nhất quán và đầy đủ các bước sau:

  • Chuẩn bị chuồng trại chăn nuôi gà đạt yêu cầu chống nóng.
  • Các biện pháp chăm sóc, chống nóng hằng ngày trong chăn nuôi gà.
  • Phòng chống nóng chủ động bằng vaccine, thuốc, vitamin…trong chăn nuôi gà mùa nóng

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 Attia Y.A., Hassan R.A, Tag El-Din A.E., Abou-Shehema B.M,  2011. Effect of ascorbic acid or increasing metabolizable energy level with or without supplementation of some essential amino acids on productive and physiological traits of slow-growing chicks exposed to chronic heat stress. J. Anim. Physiol. Anim. Nutr. 2011;95:744–755.

Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận, 1992, Chăn nuôi gia cầm.  NXB Nông nghiệp

 Dai S.F., Gao F., Xu X.L., Zhang W.H., Song S.X., Zhou G.H, 2012. Effects of dietary glutamine and gamma-aminobutyric acid on meat colour, pH, composition, and water-holding characteristic in broilers under cyclic heat stress. Br. Poult. Sci. 2012;53:471–481.

Deeb N., and Cahaner A, 2002. Genotype-by-environment interaction with broiler genotypes differing in growth rate. 3. Growth rate and water consumption of broiler progeny from weight-selected versus nonselected parents under normal and high ambient temperatures. Poult. Sci. 2002;81:293–301

Deng W., Dong X.F., Tong J.M., Zhang Q, 2012. The probiotic Bacillus licheniformis ameliorates heat stress-induced impairment of egg production, gut morphology, and intestinal mucosal immunity in laying hens. Poult. Sci. 2012;91:575–582.

Ebeid T.A., Suzuki T., Sugiyama T. High temperature influences eggshell quality and calbindin-D28k localization of eggshell gland and all intestinal segments of laying hens. Poult. Sci. 2012;91:2282–2287. 

 Estevez I, 2007. Density allowances for broilers: Where to set the limits? Poult. Sci. 2007;86:1265–1272.

Farnell M.B., Moore R.W., McElroy A.P., Hargis B.M., Caldwell D.J, 2001. Effect of prolonged heat stress in single-comb white leghorn hens on progeny resistance to Salmonella enteritidis organ invasion. Avian Dis. 2001;45:479–485

Ghazi S.H., Habibian M., Moeini M.M., Abdolmohammadi A.R, 2012. Effects of different levels of organic and inorganic chromium on growth performance and immunocompetence of broilers under heat stress. Biol. Trace Elem. Res. 2012;146:309–317

 Imik H., Atasever M.A., Urgar S., Ozlu H., Gumus R., Atasever M, 2012. Meat quality of heat stress exposed broilers and effect of protein and vitamin E. Br. Poult. Sci. 2012;53:689–698.

 Lin H., Mertens K., Kemps B., Govaerts T., De Ketelaere B., De Baerdemaeker J., Decuypere E., Buyse J, 2004. New approach of testing tShe effect of heat stress on eggshell quality: Mechanical and material properties of eggshell and membrane. Br. Poult. Sci. 2004;45:476–482

Lu Q., Wen J., Zhang H, 2007. Effect of chronic heat exposure on fat deposition and meat quality in two genetic types of chicken. Poult. Sci. 2007;86:1059–1064. 

Mack L.A., Felver-Gant J.N., Dennis R.L., Cheng H.W, 2013. Genetic variation alter production and behavioral responses following heat stress in 2 strains of laying hens. Poult. Sci. 2013;92:285–294.

Mashaly M.M., Hendricks G.L., III, Kalama M.A., Gehad A.E., Abbas A.O., Patterson P.H,Effect of heat stress on production parameters and immune responses of commercial laying hens

Mitchell M.A., Kettlewell P.J, 1998. Physiological stress and welfare of broiler chickens in transit: Solutions not problems! Poult. Sci. 1998;77:1803–1814. 

 Sohail M.U., Hume M.E., Byrd J.A., Nisbet D.J., Ijaz A., Sohail A., Shabbir M.Z., Rehman H, 2012. Effect of supplementation of prebiotic mannan-oligosaccharides and probiotic mixture on growth performance of broilers subjected to chronic heat stress. Poult. Sci. 2012;91:2235–2240.

 Star L., Juul-Madsen H.R., Decuypere E., Nieuwland M.G., de Vries Reilingh G., van den Brand H., Kemp B., Parmentier H.K, 2009. Effect of early life thermal conditioning and immune challenge on thermotolerance and humoral immune competence in adult laying hens. Poult. Sci. 2009;88:2253–2261. . 

 St-Pierre N.R., Cobanov B., Schnitkey G, 2003. Economic losses from heat stress by US livestock industries. J. Dairy Sci. 2003;86(E. Suppl.):E52–E77.

 Warriss P.D., Pagazaurtundua A., Brown S.N, 2005. Relationship between maximum daily temperature and mortality of broiler chickens during transport and lairage. Br. Poult. Sci. 2005;46:647–651.

Zhang Z.Y., Jia G.Q., Zuo J.J., Zhang Y., Lei J., Ren L., Feng D.Y, 2012. Effects of constant and cyclic heat stress on muscle metabolism and meat quality of broiler breast fillet and thigh meat. Poult. Sci. 2012;91:2931–2937. 

 

 

Nguồn: Ths. Phan Văn Sỹ- Trung tâm công nghệ sinh học

Ngày 10 tháng 3 năm 2017


 



Hỗ trợ trực tuyến

  • Liên hệ sản phầm

    Mr.Tuấn: 0918 300 114

  • Liên hệ kỹ thuật

    Ms. Tiên: 0974 516 457

Thư viện ảnh

  •  

Thống kê

  • Đang online:4
  • Hôm qua:131
  • Tổng lượt truy cập:48856