Bò sữa, bò thịt

Các giống cỏ phục vụ chăn nuôi đại gia súc trong cả nước

 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CÁC GIỐNG CỎ PHỤC VỤ CHĂN NUÔI ĐẠI GIA SÚC

Việt Nam đã có trên 160 giống cỏ được nghiên cứu làm thức ăn gia súc. Tuy vậy, chỉ có một số ít giống cỏ đã được trồng phổ biến làm đồng cỏ thâm canh thu cắt như cỏ Voi, cỏ Sả, cỏ Paspalum và cỏ Ruzi. Các giống cỏ sử dụng cho mục đích trồng để chăn thả còn rất ít. Trước đây có giống Pangola, gần đây có giống cỏ Jarra và Signal (từ Úc) tỏ ra có triển vọng vì khả năng lấn át các cỏ khác và tồn tại được trong điều kiện khô hạn. Nhu cầu về những giống cỏ có năng suất, chất lượng tốt cho đồng cỏ chăn nuôi gia súc trở nên rất cấp thiết. Theo TS. Đào Ngọc Ánh, Trưởng Bộ môn Cây thức ăn chăn nuôi (Viện Nghiên cứu Ngô) đánh giá, thị trường cây thức ăn gia súc tới đây có thể tạm khoanh thành 4 nhóm chính:

-         Một là các giống cỏ họ hòa thảo nội địa (như cỏ voi, cỏ sả, cỏ Ghine, cỏ VA06…);
-         Hai là ngô;
-          Ba là cỏ lai, cao lương và cao lương lai F1 và
-          Bốn là các giống cỏ họ đậu (cỏ Alfalfa, cỏ Stylo…).
Trong đó, mỗi nhóm hiện nay đều có vai trò và thế mạnh phát triển riêng của mình. Chẳng hạn, nhóm cỏ họ hòa thảo là các giống cỏ nội địa có ưu thế tái sinh, sinh trưởng chống chịu khỏe; nhất là chịu hạn, có thể trồng hom, không mất chi phí mua hạt giống, dễ chế biến phơi khô… nhưng nhược điểm lại là năng suất thấp, hàm lượng dinh dưỡng không cao. Ngược lại, nhóm cỏ lai, cao lương lai có ưu điểm năng suất, hàm lượng dinh dưỡng rất cao, nhưng lại phải mua hạt và gieo lại hàng năm. Điều này chỉ thuận lợi cho việc phát triển tại các vùng chăn nuôi tập trung, diện tích lớn và thu hoạch bằng máy, khó phát triển tại vùng chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ. Bên cạnh đó, một số giống cỏ lai, cao lương lai cũng khó phơi khô, chỉ thích hợp ăn tươi hoặc ủ chua…...
Điều kiện tự nhiên, thời tiến khí hậu, tập quán chăn nuôi của nước ta là rất  khác nhau giữa các vùng miền, do vậy mỗi vùng miền, địa phương cần có định hướng và chọn cây giống phù hợp với điều kiện khí hậu của địa phương mình. Theo báo cáo của Cục Chăn nuôi, các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc có nhiều đồng cỏ, chủ yếu trên các cao nguyên. Các đồng cỏ ở đây có thể phát triển tốt cho chăn nuôi trâu, bò, ngựa, dê. Tuy nhiên, hiện phương thức chăn nuôi ở khu vực này vẫn chủ yếu là chăn nuôi quảng canh, nhỏ lẻ chiếm tỷ trọng cao về cả số lượng và sản lượng. Tương tự như vậy, tỷ lệ trâu, bò, dê… thả rông và chưa tiếp cận được với phương pháp chăn nuôi khoa học, quy mô lớn còn nhiều. Bên cạnh tập quán chăn nuôi, vấn đề giống cũng là yếu tố cần đặt ra với khu vực này. Hiện nay, các giống gia súc được nuôi chủ yếu là giống sẵn có tại địa phương, một phần được mua từ các tỉnh vùng đồng bằng. Nguồn giống không được lai tạo, cải thiện nên đã đem đến cho quá trình tăng trưởng về sản lượng thịt, sữa đều thấp. Nguồn thức ăn chủ yếu là tận dụng thức ăn tại chỗ và chưa chủ động được nguồn thức ăn Để phát triển gia súc ở khu vực miền núi phía Bắc, theo nhiều chuyên gia, trước mắt cần tập trung vào một số nội dung chính như: Đưa nhanh một số tiến bộ khoa học kỹ thuật trong công tác giống vật nuôi phục vụ chăn nuôi đại gia súc. Đẩy mạnh và chuyển giao nhanh kết quả triển khai các dự án khuyến nông Trung ương như xây dựng mô hình cải tạo đàn bò bằng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo và chăn nuôi trâu sinh sản quy mô nông hộ. Bên cạnh đó cần nâng cao giải pháp quản lý dịch bệnh và biện pháp phòng chống thiệt hại trong chăn nuôi trâu, bò…
Với các tỉnh miền trung như vùng gò đồi Quảng Trị, Huế, Quảng Nam. Những năm qua, phong trào chăn nuôi gia súc ở vùng gò đồi của các tỉnh phát triển mạnh đưa lại hiệu quả kinh tế khá cao. Tuy nhiên, hiện nay, do mở rộng diện tích trồng rừng và cây công nghiệp dài ngày đã dần thu hẹp đồng cỏ làm cho chăn nuôi dựa vào đồng cỏ tự nhiên không còn là lợi thế ở vùng gò đồi nữa. Vì thế, chăn nuôi gia súc thâm canh gắn với phát triển đồng cỏ đang là hướng đi hiện nay. Ở một số vùng đất dốc, việc trồng cỏ còn có tác dụng trong việc phòng chống xói mòn và cải tạo đất. 
 Tại Quảng Trị là một tỉnh thường xuyên bị lũ lụt, những vùng chăn nuôi gia súc dựa vào đồng cỏ tự nhiên thường bị thiếu thức ăn thô xanh vào thời điểm thời tiết khắc nghiệt. Vì vậy, việc trồng cỏ nuôi bò không chỉ giải quyết được vấn đề thiếu đồng cỏ chăn dắt mà còn giúp nông dân chủ động được nguồn thức ăn thô xanh cho gia súc. Phát triển đồng cỏ người chăn nuôi đảm bảo đủ về số lượng thức ăn cho ăn tươi và chế biến dự trữ quanh năm.  Mặt khác, có nguồn thức ăn thô xanh kết hợp với đầu tư thêm thức ăn tinh và các loại thức ăn khác giúp cho gia súc cân đối về dinh dưỡng, ăn no, khoẻ mạnh nên chóng lớn, tạo thu nhập cao cho người chăn nuôi. Trồng cỏ chủ động nguồn thức ăn cho gia súc giúp người chăn nuôi chuyển dần phương thức chăn thả quảng canh sang chăn nuôi thâm canh, góp phần chuyển đổi nhận thức của nông dân về phát triển chăn nuôi theo hướng bền vững. Về hiệu quả môi trường, phát triển trồng cỏ nuôi bò góp phần nâng cao độ phì của đất thông qua chế độ canh tác hợp lý, giữ nước giảm mức độ xói mòn đất. Việc hạn chế thả rong gia súc giúp bảo vệ rừng, cây công nghiệp và các loại cây trồng khác. Một số giống cỏ thường trồng là cỏ voi, cỏ Ghinê, cỏ lông Para…. 
            Tại địa bàn tỉnh Quảng Trị nông dân thường trồng cỏ voi. Cỏ voi có nguồn gốc từ Nam Phi. Đây là một trong những giống cỏ cho năng suất chất xanh cao nhất trong điều kiện thâm canh ở nước ta. Là loại cỏ hoà thảo lâu năm, cỏ voi có thân đứng cao từ 2- 6 m, nhiều đốt, những đốt gần dưới thường ra rễ, hình thành cả thân ngầm phát triển thành búi to. Cỏ voi chịu được khô hạn, nhiệt độ thích hợp nhất cho sinh trưởng từ 25 - 40oC, giai đoạn sinh trưởng chính của cỏ voi là vào mùa hè khi nhiệt độ và ẩm độ cao; sinh trưởng chậm trong mùa đông và mẫn cảm với sương muối. Cỏ voi thích hợp nhất với đất giàu dinh dưỡng có tầng canh tác sâu, giàu mùn, pH bằng 6 - 7, đất không bùn, úng. Trong điều kiện nhiệt độ thấp, chất lượng cỏ vẫn không thay đổi. Nếu không đủ nước, khô hạn kéo dài, nhiệt độ không khí quá nóng trên 450C thì cỏ voi ngừng sinh trưởng và phát triển. Mặc dù chịu được khô hạn nhưng cỏ voi cần lượng nước rất cao. Vì vậy, khi lượng mưa không đạt trên 1.000 mm thì cần phải tưới bổ sung. 
Tại Ninh Thuận- là thủ phủ về chăn nuôi nuôi gia súc, với tổng đàn gia súc hơn 254.000 con; trong đó nhiều nhất là cừu với 92.000 con, bò hơn 89.000 con, còn lại là gia súc khác. Trước tình hình hạn hán xảy ra gay gắt như vừa qua, nghề chăn nuôi ở Ninh Thuận đã chịu tổn thất không nhỏ, hơn 1.0 00 con gia súc (chủ yếu dê, cừu, bò) bị chết do thiếu thức ăn , gây thiệt hại lớn cho người chăn nuôi. Để ứng phó với hạn hán liên tục diễn ra, việc tỉnh Ninh Thuận quy hoạch đồng cỏ và vùng chăn nuôi gia súc có sừng tập trung là hướng đi mới, chắc chắn sẽ tạo cơ hội cho nghề chăn nuôi của tỉnh phát triển một cách bền vững, mang lại hiệu quả cao về kinh tế - xã hội cho địa phương. Chính vì vậy Tỉnh đã  xây dựng Quy hoạch đồng cỏ gắn với chăn nuôi gia súc tập trung đến năm 2020 và được UBND tỉnh phê duyệt. Bước tiếp theo của ngành Nông nghiệp làm là công bố quy hoạch; đồng thời, phối hợp với các địa phương triển khai đồng bộ các giải pháp để đạt mục tiêu đề ra. Theo quy hoạch, lộ trình từ nay đến năm 2020 phát triển đồng cỏ quy mô diện tích 1.900ha. Giai đoạn đầu, hình thành vùng chuyên canh sản xuất cỏ 300ha, sau đó nhân ra trên phạm vi lớn. Quy hoạch tuân thủ mục đích đảm bảo mở rộng quy mô vừa chuyển giao giống cỏ mới có năng suất, chất lượng cao, thích nghi với điều kiện thổ nhưỡng ở từng khu vực.
Nông dân ở đây được hỗ trợ trồng thử nghiệm giống cỏ Sweet jumbo có năng suất và hàm lượng dinh dưỡng vượt trội. Đây là giống cỏ cao lương ngọt trồng phổ biến ở Úc, đang được nhân rộng ở nước ta vì dễ trồng, dễ chăm sóc, năng suất đạt từ 250 - 400 tấn/ha/năm, cao hơn cỏ voi VA06 mà bà con trong tỉnh đang trồng hiện nay 100 tấn. Tại huyện Ninh Phước, phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tiếp nhận giống cỏ mới cấp cho các xã, thị trấn (bình quân mỗi xã, thị trấn 5 kg giống) trên địa bàn trồng thử nghiệm trong vụ mùa. Phong trào trồng cỏ cũng đang lan tỏa rộng khắp trên toàn tỉnh, nhiều hộ sử dụng giống cỏ mới, đầu tư hệ thống tưới phun mưa sản xuất theo hướng ứng dụng công nghệ cao.
Chăn nuôi ở Ninh Thuận đang ngày càng phát triển, bằng nhiều hình thức trang trại, gia trại. Toàn tỉnh có tổng đàn gia súc là 254.000 con; trong đó, dê, cừu 92.000 con, bò 89.000 con. Theo đề án Tái cơ cấu ngành chăn nuôi đến năm 2020, quy mô tổng đàn bò tăng lên 140.000 con; cừu, dê tăng lên trên 100.000 con. Theo tính toán của những người làm chuyên môn, với tổng đàn trên, ngoài nguồn thức ăn có sẵn trong tự nhiên, mỗi năm cần thêm khoảng hơn 1.000 tấn cỏ, do đó việc quy hoạch phát triển vùng trồng cỏ là rất cần thiết nhằm đảm bảo thức ăn cho đàn gia súc, vừa hình thành thêm nghề trồng cỏ, tạo công ăn việc làm cho nhiều lao động.
Tại Bình Phước, trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của tỉnh đến năm 2020 thì chăn nuôi là ngành kinh tế mũi nhọn và ưu tiên phát triển đàn gia súc chủ yếu là trâu và bò thịt . Một số cây trồng không phải là thế mạnh, kém hiệu quả được chuyển đổi sang các cây trồng khác trong đó có trồng cỏ nuôi bò. Tỉnh đã triển khai một số chính sách hỗ trợ nông dân trồng cỏ nuôi bò sinh sản mỗi hộ 10 triệu đồng. Đầu năm 2014, Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư tỉnh phối hợp với Trạm Khuyến nông huyện Hớn Quản triển khai mô hình trồng cỏ nuôi bò cho 2 hộ dân trên địa bàn xã Tân Khai theo hình thức đối ứng, quy mô 2 sào/hộ. Tham gia mô hình, các hộ chịu 50% kinh phí và bỏ công chăm sóc; trung tâm hỗ trợ 100% giống, 50% phân bón, lắp đặt hệ thống ống tưới. Giống cỏ được chọn triển khai là VA06.
Tây Ninh là một trong những tỉnh khu vực phía Nam có số lượng bò nhiều và có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển chăn nuôi bò như đất đai, đồng cỏ chăn thả rộng, nguồn thức ăn xanh và phụ phẩm nông nghiệp dồi dào, địa hình cao, ít mưa bão, lũ lụt. Chăn nuôi bò thịt tạo ra sản phẩm hàng hoá lớn, thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, giải quyết tình trạng lao động nông nhàn, tăng thu nhập cho người dân. Tuy nhiên, sự phát triển của đàn bò còn nhiều hạn chế do việc sử dụng con giống khá tuỳ tiện, người chăn nuôi thiếu kiến thức về chăn nuôi bò thịt cao sản, năng suất, chất lượng bò thịt thấp, quy mô chăn nuôi nhỏ lẻ chiếm tỷ lệ cao, người nuôi chưa chủ động được con giống, chưa giải quyết triệt để dịch bệnh, chưa tận dụng được hết phụ phẩm nông và công nghiệp, giá thành sản phẩm cao, vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm còn nhiều bất cập. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Tây Ninh đã hoàn chỉnh đề án “Phát triển chăn nuôi bò thịt trên địa bàn tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2016 – 2020”. Đề án này được coi như là một bước cụ thể hoá tái cơ cấu ngành nông nghiệp– một lĩnh vực đặc biệt quan trọng liên quan đến nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Theo tính toán, một hecta đất trồng cỏ có năng suất 250 tấn, nuôi được 14 con bò, tạo việc làm thêm cho 2 lao động. Do vậy, phát triển chăn nuôi bò thịt thực sự góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, tạo việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho nông dân, đặc biệt là nông dân ở vùng sâu, vùng xa. Phát triển chăn nuôi bò còn tận dụng được sản phẩm phụ của các loại cây trồng. Hiện nay, Tây Ninh có khoảng 154 ngàn hecta lúa, gần 6 ngàn hecta bắp, 14,7 ngàn hecta đậu phộng, hơn 40 ngàn hecta khoai mì và 25,5 ngàn hecta mía. Phụ phẩm (rơm, thân bắp, dây đậu phộng, lá khoai mì, ngọn mía) của các cây trồng là khá lớn và có thể sử dụng để phát triển chăn nuôi bò hiệu quả.
Tại đồng bằng Sông cửu Long, hình thành các mô hình trồng cỏ nuôi bò dưới tán cây ăn trái mang lại hiệu quả kinh tế cao như là ở Bến tre, Vĩnh Long…. Nhiều địa phương tại vùng này tập trung phát triển các mô hình chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế cao, phù hợp với yêu cầu  tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Trong đó, với mục tiêu đưa mô hình chăn nuôi bò trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương. Chính quyền, các ban ngành đã tuyên truyền, khuyến khích nhân dân tận dụng tiềm năng đất đai, nhất là các diện tích đất trồng dừa, đất trồng lúa kém hiệu quả phát triển mô hình trồng cỏ - nuôi bò, bước đầu đã mang lại hiệu quả thiết thực. Nhiều hộ nuôi bò của ở đây cho biết: Cỏ rất dễ trồng, dễ tái sinh và thời gian tái sinh ngắn. Một đợt cắt cỏ xong, thì khoảng 2 tuần sau cỏ phủ cao và tiếp tục cắt lại. Cỏ tây, cỏ voi, cỏ sữa ống mềm, bò dễ ăn, dễ tiêu hóa, nhiều dưỡng chất, giúp bò tăng trọng lượng, mau lớn. Từ khi trồng cỏ, thời gian dành cho việc chăn nuôi không nhiều, vì cỏ đã được trồng sẵn nên chỉ dành thời gian rảnh rỗi để cắt cỏ. Vì thế có thể tập trung sản xuất các mô hình khác để tạo ra các nguồn thu nhập cho gia đình.
Theo PGS.TS Đinh Văn Cải việc chọn giống thích hợp cho các vùng miền là rất quan trọng tác giả cho biết: Có rất nhiều giống cỏ khác nhau đã được nghiên cứu ở Việt Nam từ nhiều năm qua. Nhiều giống đã giới thiệu cho các tỉnh từ Bắc đến Nam, tuy vậy chỉ có rất ít giống có thể thoả mãn được các yêu cầu và các điều kiện rất khác biệt nhau giữa các vùng. Sau đây giới một số giống cỏ thảo và cỏ đậu thích hợp với điều kiện nhất định:
Brachiaria brizanlha (Signal grass): cho vùng ít mưa, đất chua nhẹ, xen cỏ đậu.
Brachiaria decumbens: thích nghi rộng với điều kiện khí hậu và đất đai.
Brachiaria milliformis: chịu râm, trồng dưới tán cây
Brachiara mulica (Para grass, Watter grass): cho vùng ngập nước, đất chua.
Brachiara ruziziensis (Ruzi grass): cho vùng có lượng mưa cao, đất thoát nước tốt.
Brachiara humidicola: cho đất dốc, nghèo dinh dưỡng, ngập nước tạm thời.
Digitaria decubens (Pangola grass): cho vùng hạn, đất xấu.
Paspalum plicatulum và Paspalum alratum: vùng ngập nước, đất chua.
Penisetum clandeslinum (Kikuy grass) và Paspalum: cho vùng lạnh, cao nhiều mưa.
Panicum maximum (Guinea  Hamil grass; co Sas): cho vùng khô hạn, đất tốt. Xen cỏ đậu.
Penisetum purpureum (King grass; cỏ Voi): cho vùng đủ ẩm không ngập úng, đất tốt.
Setari sphacelala: cho vùng lạnh, đất xấu, ngập úng tạm thời.
Centrocenma pttbescens (đậu bướm): cho vùng có lượng mưa cao (từ 1250 mm), chịu đất chua, chịu bóng râm, ngập úng tạm thời. Trồng xen cỏ thảo.
Desmodium intortum (Greellleaf; cỏ xoăn): cho vùng có lượng mưa từ 1100 mm, chịu lạnh, dễ bị sâu bệnh.
Gliricidia maculala (cây cọc rào): chịu hạn. Trồng làm hàng rào, trên đường phân lô đồng cỏ chăn thả.
Leucaena leucoceplila (keo dậu): chịu hạn, nơi có lượng mưa 750 mm, đất thoát nước tốt, trồng trên lô đồng cỏ, làm hàng rào.
Stylosanlhes guyanensis: chịu lạnh, lượng mưa 700 – 1000 mm, chịu giẫm đạp.
Slylosanlhes liamala: cho vùng khô hạn, đất thoát nước tốt, đất nghèo dinh dưỡng, chịu giẫm đạp khi chăn thả. Thích hợp cho trồng xen cỏ thảo để chăn thả.
Slylosanlhes liamala (lá nhỏ, phát triển chậm) thích hợp với nhiều loại đất, chịu bóng râm, chịu giẫm đạp.
Slylosanlhes liamala: cây lâu năm, thân bụi, gỗ, thích hợp với nhiều loại đất trên cả đất sét nặng và trong điều kiện khắc nghiệt. Trồng xen với cỏ thảo cho chăn thả.
 
Nguồn: Trung tâm Công nghệ Sinh học Chăn nuôi
Ngày 3 tháng 10 năm 2017


Hỗ trợ trực tuyến

  • Liên hệ sản phầm

    Mr.Tuấn: 0918 300 114

  • Liên hệ kỹ thuật

    Ms. Tiên: 0974 516 457

Thư viện ảnh

  •  

Thống kê

  • Đang online:5
  • Hôm qua:131
  • Tổng lượt truy cập:48857