Bò sữa, bò thịt

Một số nét tổng quan về tình hình chăn nuôi dê ở Việt Nam

Ở nhiều nước nhiệt đới và bán nhiệt đới, dê là một loài vật nuôi có vai trò quan trọng trong ngành chăn nuôi. Ở Việt Nam, nghề chăn nuôi dê đã có từ lâu đời nhưng chủ yếu theo phương thức quảng canh.

Tình hình phát triển của tổng đàn dê

Năm 1993, Trung tâm nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây được giao nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển chăn nuôi dê trong cả nước. Từ đó đến nay nhiều công trình nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật chăn nuôi dê về giống, thức ăn, chăm sóc nuôi dưỡng, thú y, chế biến sản phẩm đã được tiến hành và đã thu được những kết quả bước đầu khả quan và tạo điều kiện cho chăn nuôi dê từng bước phát triển trong cả nước. Năm 2003, sau 10 năm phát triển, theo số liệu của Cục thống kê tổng đàn dê của cả nước là 525.000 con, trong đó chủ yếu là giống dê Cỏ, được phân bố tập trung ở các tỉnh vùng núi và trung du phía Bắc. Riêng đàn dê của miền Bắc chiếm 72,5% tổng đàn, miền Nam 27,5% (trong đó Tây Nguyên chiếm 12,3%, Duyên hải miền Trung chiếm 8,9%; Đông Nam bộ 2,1% và Tây Nam bộ 3,8%). Đàn dê của các tỉnh vùng núi phía Bắc chiếm 67% tổng đàn dê của miền Bắc và 48% tổng đàn dê cả nước.

Bảng 1. Tổng số lượng và sự phân bố đàn dê của cả nước (con)

Khu vực

Năm 2015

Năm 2016

Năm 2017

Trung du & MNPB

736.650

848.464

945.296

Đ.bằng sông Hồng

79.089

66.531

104.599

TB & DHMT

433.957

495.793

623.501

Tây Nguyên

117.137

134.094

153.074

Đông Nam bộ

231.449

309.843

357.715

Tây Nam bộ

179.362

344.168

402.283

Tổng số

1.777.662

2.198.893 

2.586.468

Tính thời điểm hiện nay, tổng đàn dê vẫn không ngừng phát triển và tính tới thời điểm tháng 10 năm 2017 so với thời kì đầu phát triển, đàn dê đã tăng từ 320.000 con lên 2.586.000 con, gấp 8 lần và đã ngày càng được quan tâm đầu tư phát triển cả về mặt số lượng và chất lượng. Theo số liệu từ Tổng cục thống kê Việt Nam, khu vực Trung du miền núi phía Bắc và Trung bộ và DHMT là khu vực có tổng đàn dê cao nhất nước (tương ứng khoảng 945.000 và 623.000 con) , sau đó là khu vực miền Đông Nam bộ và Tây Nam bộ. Tây Nguyên và Đồng bằng sông Hồng và khu vực có tổng đàn dê ít nhất trong cả nước

Tổng sản lượng dê xuất chuồng các khu vực trong cả nước tương ứng với tổng đàn dê của từng khu vực, trong đó trong 10 tháng đầu năm 2017 miền núi và Trung du phía Bắc dẫn đầu về sản lượng với 285.804 con, sau đó là Bắc Trung bộ với 350.015 con, khu vực Tây Nam bộ. mặc dù về tổng đàn có thấp hơn, tuy nhiên sản lượng dê xuất chuồng có chênh lệch cao hơn, dù chưa đáng kể so với Đông Nam bộ, tương ứng 167.793 con so với 160.658 con. Xét theo tổng sản lượng chung, trong 3 năm trở lại đây tổng sản lượng dê xuất chuồng cũng không ngừng tăng qua hàng năm, tương ứng năm 2015 đạt khoảng 810

ngàn con, năm 2016 là 909 ngàn con và đến 10 tháng năm 2017, con số đã đạt được là khoảng 1 triệu con.

Bảng 2. Tổng sản lượng dê xuất chuồng các khu vực trong cả nước (con)

Khu vực

Năm 2015

Năm 2016

Năm 2017

ĐB Sông Hồng

58491

47399

70004

MN và Trung du

215221

259290

285804

BTB & DHMT

300623

248109

350154

Tây Nguyên

45655

52634

60785

Đông Nam Bộ

102798

128332

160658

Tây Nam bộ

87829

173886

167793

CẢ NƯỚC

810.617

909.652

1.095.199

 

Sản lượng thịt dê xuất chuồng trong 3 năm gần đây của cả nước cũng đã tăng đáng kể tương ứng với sự phát triển của tổng đàn dê. Năm 2017, tổng sản lượng thịt khoảng gần 20 ngàn tấn, năm 2016 là 24 ngàn tấn và 10 tháng đầu năm 2017 là 26 ngàn tấn. Khu vực Bắc Trung bộ và DHMT vẫn là khu vực có sản lượng thịt cao nhất với khoảng gần 8 ngàn tấn, sau đó là Miền núi và Trung du với gần 6 ngàn tấn; Tây Nam bộ với 4,6 ngàn tấn, khu vực Đông Nam bộ là 4,4 ngàn tấn và cuối cùng với khoảng gần 2 ngàn tấn là 2 khu vực ĐB sông Hồng và Tây Nguyên.

Bảng 3. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng (tấn)

Khu vực

Năm 2015

Năm 2016

Năm 2017

ĐB Sông Hồng

1526,0

1759,3

1825,9

Miền núi và Trung du

4651,6

5327,3

5989,4

BTB & DHMT

6820,9

6291,1

7905,9

Tây Nguyên

1227,0

1311,6

1426,1

Đông Nam Bộ

2810,4

3241,0

4414,4

Tây Nam bộ

2914,1

6212,8

4697,7

CẢ NƯỚC

19.950,0

24.143,2

26.259,3

Đối với phương thức chăn nuôi dê chủ yếu ở Việt Nam

Dê là loại gia súc nhỏ thường được chăn nuôi theo 3 phương thức là thâm canh (nuôi nhốt hoàn toàn), bán thâm canh (bán chăn thả), và quảng canh (chăn thả). Tại nước ta dê chủ yếu theo phương thức bán thâm canh với hình thức vừa nuôi nhốt và vừa chăn thả là chủ yếu. Hình thức này cũng phù hợp với điều kiện của nước ta khi người chăn nuôi có thể tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên ngoài các đồng cỏ, bờ đê, bờ ruộng, hay đồi núi để giảm một phần chi phí thức ăn cho chăn nuôi. Tuy nhiên hạn chế của việc chăn thả đó là khả năng lây nhiễm bệnh tật, khó quản lý được sự lên giống và phối giống giữa các con trong đàn, sự ô nhiễm môi trường do nguồn phân, hoặc việc không tận dụng được hoàn toàn nguồn phân,….Phương thức quảng canh thì phổ biến nhiều ở những vùng trung du và miền núi hoặc những nơi đất đai rộng rãi, có nhiều cỏ, cây… Dê được nuôi chăn thả hoàn toàn theo bầy đàn, chúng tự tìm kiếm và chọn lọc những loại thức ăn tự nhiên phong phú và đa dạng. Phương thức chăn thả quảng canh cho năng suất thấp nhưng vốn đầu tư về giống, chuồng trại, thức ăn, thuốc thú y, công chăm sóc… thấp hơn nhiều, nên hiệu quả kinh tế cao. Phương thức này áp dụng để nuôi dê lấy thịt. Ở các vùng núi chỉ cần thả dê sống trên núi đồi mà không tốn thực phẩm

Tình hình phát triển các giống dê tại Việt Nam

Giống dê Việt Nam chủ yếu là giống dê Cỏ địa phương nuôi lấy thịt. có nhiều màu sắc lông da khác nhau và bộ pha tạp nhiều, dê có lầm vóc bé nhỏ, hiệu suất chuyển hoá thức ăn thấp, hiện tượng suy thoái cận huyết cao. nuôi dưỡng kém, bệnh tật phát sinh nhiều. Ở một số nơi tỷ lệ chết của dê con từ sơ sinh đến 12 tháng tuổi khá cao, lên tới trên 40% tổng số dê con sinh ra. Năm 1995, trung tâm Nghiên cứu dê thỏ Sơn Tây đã nghiên cứu giống dê Bách Thảo và cho thấy đây là giống dê nội kiêm dụng sữa thịt có khả năng sản xuất sữa và thịt đặc biệt là khả năng sinh sản cao hơn rất nhiều so với dê Cỏ. Do đó, giống dê này đã được đưa ma sản xuất đại trà trong cả nước và được người chăn nuôi ở nhiều nơi hoan nghênh tiếp nhận. Năm 1994, ba giống dê sữa Ấn Độ đã được nhập về nước ta với số lượng 500 con. Sau 4 năm nuôi theo dõi, đánh giá khả năng thích nghi, 3 giống dê này đã được Nhà nước công nhận thích nghi và cho phép đưa ra phát triển, nuôi đại trà ở các vùng 9 trong cả nước. Việc sử dụng dê đực Bách Thảo và dê Ấn Độ để lai cải tạo, nâng cao tầm vóc và năng suất giống dê Cỏ đã thu được kết quả rất tốt mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người chăn nuôi. Trong năm 2002, ba giống dê cao sản nhất trên thế giới là Boer chuyên thịt và Saanen, Alpine chuyên sữa đã được Nhà nước đầu tư và cho nhập từ Mỹ nhằm mục đích nhân thuần và lai lạo để lạo ra các giống dê sữa, thịt của Việt Nam. Với các chương trình nghiên cứu và đầu tư phát triển của  nhà nước như trên, trong 10 năm qua ngành chăn nuôi dê của nước ta đã có được những bước phát triển mạnh.


Nguồn: Trung tâm Công nghệ Sinh học Chăn nuôi

Ngày: 29 tháng 3 năm 2017

 

 

 



Hỗ trợ trực tuyến

  • Liên hệ sản phầm

    Mr.Tuấn: 0918 300 114

  • Liên hệ kỹ thuật

    Ms. Tiên: 0974 516 457

Thư viện ảnh

  •  

Thống kê

  • Đang online:26
  • Hôm qua:108
  • Tổng lượt truy cập:79275